Toggle Menu

"Làn sóng phản đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của Mỹ ở Việt Nam"

 

Triển lãm

Phát biểu của JJ Johnson tại Hội nghị lính Mỹ phản chiến tại thành phố Hồ Chí Minh

 

Không! Thưa ngài. Những câu nói đó buột ra cách đây hơn nửa thế kỉ đã ngăn tôi không dấn thân vào cuộc cuộc chiến tranh xâm lược mà các bạn tôi Dennis Mora, David Samas và tôi coi là vô đạo đức, bất hợp pháp và phi lý. Và hơn nữa, những câu nói đó đã đưa vào một cuộc hành trình dẫn đến sự tuân thủ lẽ phải ngày nay.

 

Lịch sử ghi nhận rằng sự phản đối không đi đánh nhau tại Việt Nam của Tam binh Fort Hood Three (Fort Hood Three) là một sự kiện quan trọng vì đây là một trong những cuộc phản chiến đàu tiên và vì ba người chúng tôi phần nào đại diện cho một tập hợp hỗn hợp của quốc gia này - một người da trắng, một người Latino và một người Mỹ gốc Phi. Vì chúng tôi đã tuyên bố ý định sẽ bất tuân mệnh lệnh và trở thành đồng minh rõ ràng với phong trào chống chiến tranh nên hành động này của chúng tôi đã đại diện cho một cuộc đấu tranh chính trị quan trọng.

 

Tuy nhiên, mỗi người lính phải tự mình phải vật lộn với lương tri của mình. Thật vậy, trước khi chúng tôi bị đưa đến sân bay Fort Dix, mỗi chúng tôi đều được thông báo là hai người kia đã lên máy bay và đang trên dường sang Việt Nam. Vì vậy, hãy để tôi giải thích ngắn gọn tôi đã quyết định hành xử như thế nào.

 

Vào ngày bị gọi nhập ngũ vào tháng 6 tháng 12 năm 1965, trong đầu tôi chưa có khái niệm gì về việc Hoa Kỳ can thiệp vào Việt Nam. Sau này khi tôi kết bạn với Dennis Mora, người lúc đầu từ chối bước lên phía trước tuyên thệ tại Trung tâm Huấn luyện. Chúng tôi không huấn luyện cơ bản cùng nhau, nhưng chúng tôi đã may mắn ở trong cùng một đơn vị đào tạo nâng cao. Những mối quan hệ của Dennis với phong trào chống chiến tranh quả là vô giá, cũng như khiếu hài hước của David Samas vậy.

 

Ngay từ ngày đầu tiên tiếp nhận tại Trại Fort Jackson, Nam Carolina, tôi hiểu rằng việc thực thi quân lệnh khắt khe, hoặc chính xác hơn, là hành hạ binh lính được thực hiện không đơn giản chỉ để huấn luyện chúng tôi phải lập tức tuân lệnh để sẵn sàng chiến đâu. Thay vào đó, tôi tin rằng sự ngược đãi này là để làm cho chúng tôi trở nên què quặt về trí tuệ, dập tắt lý trí của chúng tôi để buộc chúng tôi tuân theo một cách mù quáng.

 

Tôi bắt đầu nhìn nhận những cuộc nổi dậy gần đây trong các khu ổ chuột của đất nước chúng tôi bằng con mắt khác và sự nổi lên của một nền văn hoá chống đối trong nước nay cũng có một ý nghĩa mới. Bầu không khí tự do dân sự và dân quyền đang ở mọi nơi trong khi tôi lại được lệnh phải bước đi theo hướng ngược lại. Quyết định của tôi không tham gia vào cuộc xâm lăng của đất nước chúng tôi đã được cổ vũ nhiều bởi một hệ thống hỗ trợ mạnh mẽ. Mẹ tôi, người đã học lớp sáu, đã không ngần ngại cất cao tiếng nói của mình, anh trai tôi thì lao vào phong trào chống chiến tranh, các em gái tôi sẵn sàng sát cánh cùng tôi. Và cha tôi, một nhà hoạt động công đoàn tích cực và một nhà thần học giải phóng tự suy tôn, cũng tham gia chống lại cuộc chiến này.

 

Phong trào chống chiến tranh, đương nhiên, đã nâng chúng tôi lên và khuếch đại tiếng nói của chúng tôi. Thay vì thỏa hiệp lập trường của mình để được đối xử thuận lợi hơn sau bị đưa ra tòa án binh, chúng tôi đã mạnh mẽ hơn và kiên quyết hơn. Sự phản đối đi huấn luyện quân sự của Muhammad Ali và quyết định chống chiến tranh của Luật sư Martin Luther King củng cố thêm thế đứng của chúng tôi. Muhammad Ali đã chỉ ra mối liên hệ giữa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và quyền bình đẳng của người da đen khi ông có câu phát biểu nổi tiếng: "Tại sao một người da đen lại đi giết người dân da vàng vô tội. Chưa có người Việt Nam nào từng gọi tôi là thằng mọi đen cả”.

 

Những gì chúng tôi đã học được trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã được rỉ tai nhau và sớm vang lên trong khắp các lực lượng vũ trang. Những gì lúc đầu còn âm ỷ phản đối nay đã bùng cháy. Triển lãm này đã ghi lại một cách hiệu quả về độ sâu và bề rộng của phong trào phản chiến. Tại trại giam Leavenworth, buổi chiếu phim cuối tuần thường được đi kèm với các tin tức thời sự. Nhưng khi các bản tin đưa tin về sự thất bại của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam, các tù nhân ở Leavenworth đã nhảy lên hoan hô. Sau đó hộ không chiếu các bản tin nữa. Một dấu hiệu nữa cho thấy sự trỗi dậy của phong trào chống chiến tranh là sự gia tăng số lượng tù nhân từ khoảng 500 người khi chúng tôi mới bị đưa vào đây năm 1966 lên đến năm 1.500 khi chúng tôi rời khỏi đây hai năm sau đó.

 

Một nhân tố khác trong việc từ chối chiến tranh và duy trì được sự kiên định của mình là nhân dân Việt Nam. Lòng can đảm và tài lãnh đạo của các bạn đã truyền cảm hứng cho chúng tôi ở cả trong và ngoài quân đội. Nếu một quốc gia tương đối nhỏ bé không có công nghệ, hỏa lực và nguồn lực như của một quốc gia hùng mạnh nhất trên thế giới mà có thể vượt lên, có lẽ chúng tôi cũng có thể làm được.

 

Trong số rất nhiều tài liệu truyền tay nhau trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi, tôi tâm đắc nhất với những bài viết của Hồ Chí Minh. Tôi hiểu được rằng tên của người có nghĩa là "Người có ý chí sáng ngời (Người Giác ngộ). Và người đã thực sự là như vậy.

 

Tôi đến Bắc Việt Nam năm 1969 trong một phái đoàn hòa bình để đưa một số tù binh Mỹ về nước. Tôi thấy anh chị em Việt Nam của tôi là những người dịu dàng nhất cũng như là những chiến binh dữ dội nhất. Tôi đã vô cùng cảm động khi nhận được những cái ôm ấm áp và tình đoàn kết bất diệt của họ.

 

Hôm nay, tôi tự hào đứng trên đất của những người bạn mà tôi đã học được rất nhiều và còn nợ rất nhiều. Tôi sẽ tiếp tục nhận được sức mạnh từ những tấm gương của các bạn. Tôi không dám nói rằng tôi có câu trả lời làm thế nào để đạt được một thế giới hoà bình, công lý, bình đẳng và môi trường bền vững, nhưng thông qua tất cả, tôi vẫn lạc quan và sẽ tiếp tục đấu tranh cho một thế giới trong đó của cải trên trái đất này sẽ được chia sẻ cho tất cả các công dân của mình. Tôi muốn diễn tả ý này bằng câu của nhà văn Ấn Độ Arundhati Roy: "Hãy nhớ rằng, chúng ta rất đông và họ rất ít. Một thế giới khác là có thể. Vào một ngày yên tĩnh, nếu bạn lắng nghe cẩn thận, bạn có thể nghe tiếng thở của thế giới đó”.

 

 

 

chuyện kể

Việt Nam và cuộc phản chiến của binh lính Hoa Kỳ

DEREK SEIDMAN

 

Đã có nhiều bài viết về cuộc chiến tranh chống Việt Nam của Mỹ và về phong trào phản đối chiến tranh quy mô và ngày càng lớn mạnh vào thời đó. Tuy nhiên, nhiều người vẫn không biết về phong trào phản chiến nổi dậy mạnh mẽ thu hút nhiều lính Mỹ phục vụ trong cuộc chiến, và mức độ bất đồng, bất phục tùng mệnh lệnh và nổi loạn dữ dội gia tăng trong quân đội Mỹ vào cuối những năm 1960.

Một cuộc chiến không được ủng hộ, trên nền cuộc phản đối chiến tranh và đòi quyền công dân tại Mỹ, ảnh hưởng của văn hóa “ngoài chủ lưu”, sự bất mãn với bộ máy lãnh đạo quân sự, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong xã hội Mỹ và lực lượng vũ trang Mỹ - tất cả đều góp phần vào làn sóng phản đối mang tính lịch sử của lính Mỹ, bắt đầu vào năm 1965 và kéo dài gần một thập kỉ.

Những hạt mầm bất đồng

Những hành động đầu tiên của GI (binh lính Mỹ) tại ngũ phản đối chiến tranh nổ ra vào năm 1965 và 1966. Những hành động này tách biệt và mang tính cá nhân, nhưng chúng tiên phong mở đường cho một tập hợp mục tiêu và chiến thuật sẽ định hình cho làn sóng phản đối quy mô hơn sau này.

Tháng 11/1965, Trung úy Henry Howe bị bắt sau khi tham gia một cuộc biểu tình phản chiến gần Pháo đài Bliss nằm tại El Paso, Texas. Bị kết án và bỏ tù vì "hành xử không phải lối với tư cách một sĩ quan" và có "những lời khinh thường Tổng thống", Howe trở thành GI gây xôn xao tiếng vang đầu tiên của phong trào phản chiến. Những người khác nhanh chóng nối bước, bao gồm Đại úy Howard Levy, bác sĩ da liễu đã từ chối đào tạo lính mũ nồi xanh vốn sẽ được điều sang Việt Nam, và Fort Hood 3, những quân nhân đã từ chối lệnh điều động sang Việt Nam.

Đến cuối năm 1966, những trường hợp như vậy đã tạo điều kiện thiết lập các chiến thuật phản kháng và một chương trình cho tiếng nói bất đồng của GI, xoay quanh các quyền tự do dân sự, sự phân biệt chủng tộc, và trên hết là chiến tranh. Những người khác nhanh chóng phát huy những chiến thuật và chương trình này. Năm 1966 và 1967, người lính Mỹ Andy Stapp đã tổ chức một nhóm tại Pháo đài Sill, Kansas, nhóm mà sau nay trở thành Liên đoàn Quân nhân Mỹ (American Servicemen’s Union). ASU quan niệm GI như là tầng lớp lao động của quân đội và đặt mục tiêu tổ chức họ thành công đoàn theo đường lối cấp tiến, chống đế quốc. Cũng vào khoảng thời gian đó, phong trào Sức mạnh Đen (Black Power) nổi lên từ trong hàng ngũ quân đội. Tháng 7/1967, William Harvey và George Daniels, hai lính thủy quân lục chiến da đen từ Brooklyn, đã tổ chức một buổi họp ý kiến với đồng đội và tại đây họ tuyên bố rằng người da đen không lý gì tham gia “một cuộc chiến tranh của người da trắng” ở Việt Nam. Những người lính này đã bị tòa án quân sự xử án tù dài hạn vì "đề cao lòng bất trung".

Cho đến thời điểm này, đa số các nhà hoạt động phản chiến xem lính là biểu tượng tinh thần mà sự tham gia của họ trong phong trào có thể giúp phản bác các lập luận ủng hộ chiến tranh. Nhưng phần lớn phong trào dân sự ban đầu không xem binh lính như một nhóm cần được tổ chức.

Tuy nhiên, đến năm 1968, mọi sự thay đổi. Số lượng GI phản đối ngày một tăng khiến cho các nhà hoạt động phản chiến thấy rằng binh lính có thể đóng vai trò lớn hơn là những biểu tượng tinh thần hoặc các đối tượng cần cảm thông; tự chính họ là người vận động cho hòa bình - là một bộ phận lớn, năng động của phong trào phản chiến. GI mang đến cho phong trào dân sự một tư thế chính đáng mới, cũng như một mặt trận chiến lược tấn công vào trái tim của cỗ máy chiến tranh. Và đến cuối năm 1967, GI và thường dân xây dựng một mối quan hệ với nhau chặt chẽ hơn thông qua hành động chung gần các căn cứ quân sự trên cả nước.

Phong trào GI trỗi dậy

Tất cả những điều này đã đặt nền móng cho sự trỗi dậy của phong trào GI vào năm 1968: một nỗ lực tập thể của binh lính, cựu chiến binh và các nhà hoạt động dân sự nhằm tạo dựng sự bất đồng trong nội bộ quân đội. Nó được thống nhất bởi các mục tiêu chung đó là: tổ chức binh lính, chấm dứt chiến tranh, chiến đấu chống phân biệt chủng tộc và bảo vệ các quyền tự do dân sự của binh lính. Hầu hết các sắp xếp với phong trào GI mang tính địa phương, được định hình bởi các điều kiện trực tiếp mà lính Mỹ đối mặt. Tuy nhiên, các mặt, các bộ phận khác nhau của phong trào liên kết với nhau thông qua các câu chuyện, biểu tượng và chiến thuật chung. Phong trào GI là lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ một phong trào phản chiến rộng rãi tìm cách tổ chức từ trong quân đội một cách liên tục, với binh lính là một phần cốt lõi của sứ mệnh triệt để là chấm dứt chiến tranh và xem xét lại chính sách đối ngoại.

Hai sự kiện có tính đột phá vào năm 1968 đã có vai trò cốt yếu đối với sự nổi lên của phong trào phản chiến của binh sĩ Mỹ (GI). Chuỗi sự kiện đầu tiên là việc thành lập các quán cà phê GI phản chiến. Các nhà hoạt động dân sự đã thành lập các quán cà phê gần các căn cứ quân sự để thu hút và để giúp các GI giác ngộ chính trị, và cung cấp cho họ một không gian tụ họp độc lập mang tính phản kháng văn hóa truyền thống. Chúng hoạt động như là các trung tâm tổ chức cơ sở và góp phần xây dựng tình đoàn kết giữa các GI và các nhà hoạt động dân sự. Quán cà phê đầu tiên, có tên gọi là UFO, khai trương vào đầu năm 1968 tại Columbia, Nam Carolina, gần Fort Jackson, cơ sở huấn luyện cơ bản lớn nhất của Quân đội Mỹ. Fred Gardner, người lập ra UFO, tin rằng quân đội "đang có đầy rẫy những người muốn làm tình với âm nhạc của Jimi Hendrix hơn là gây chiến với những lời dối trá của Lyndon Johnson". UFO đã thu hút hàng trăm binh lính như vậy, và truyền cảm hứng cho sự lan rộng các quán cà phê phản chiến trên khắp Hoa Kỳ và xa hơn nữa.

Sự kiện đột phá thứ hai là sự ra đời của báo chí trái lề của binh sĩ Mỹ. Đây là những tờ báo phản chiến nhằm vào đối tượng là những người lính và được lưu hành rộng khắp trong quân đội Mỹ trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Tờ báo GI đầu tiên, có tên là Vietnam GI, xuất hiện vào cuối năm 1967, và hàng chục tờ báo khác ra đời ngay sau đó. Các trang của những tờ báo này đăng tải tin tức không bị kiểm duyệt về cuộc chiến tranh, những báo cáo và bài viết dũng cảm về sự phản đối của GI, những biếm họa đả kích kịch liệt bộ máy chỉ huy quân đội, thông tin về trợ giúp pháp lý và thư từ của binh lính. Điều có ý nghĩa quan trọng hơn nữa là việc sản xuất và lưu hành các tờ báo này đã đem lại một sự nghiệp chung cho những người lính phản chiến và các đồng minh của họ trên toàn thế giới. Các nhà tổ chức của phong trào GI đã phân phát các bài báo sâu rộng trong hàng ngũ binh lính, và hàng ngàn binh sĩ đã tiếp xúc với thông điệp chống chiến tranh của họ. Thông qua báo chí GI, binh lính đóng quân ở khắp nơi, từ châu Âu đến Nhật Bản và từ Hoa Kỳ đến Việt Nam, đã có thể kết nối với nỗ lực toàn cầu nhằm xây dựng phong trào phản đối của binh sĩ đối với cuộc chiến tranh.

Một loạt tổ chức mới của binh lính cũng mọc lên khắp nơi. Nhiều binh sĩ bất đồng chính kiến tham gia vào các nhóm mới thành lập như GIs for Peace (Binh sĩ vì Hòa bình) ở căn cứ Fort Bliss; GIs United Against the War in Vietnam (Binh sĩ kết đoàn chống chiến tranh ở Việt Nam) tại trại huấn luyện Fort Jackson và căn cứ quân sự Fort Bragg; The Soldiers’ Liberation Front (SLF) - Mặt trận Giải phóng của những người lính tại căn cứ Fort Dix; và Concerned Officers Movement (Phong trào Những Sĩ quan Quan tâm). Các tổ chức này tham gia vào một loạt các hoạt động, từ việc kiến nghị và phản đối ngay tại các căn cứ đến việc vận động mọi người xuống đường tham gia các cuộc biểu tình trong khu vực.

Mạng lưới hỗ trợ dân sự phát triển rộng khắp cũng đóng vai trò chủ chốt trong việc bảo vệ các binh sĩ chống lại sự đàn áp và mở rộng phong trào GI. Các nhóm như United States Servicemen’s Fund (USSF) - Quỹ Quân nhân Hoa Kỳ - đã truyền miệng về sự phản kháng của GI và dành cho họ sự đoàn kết quý báu, từ việc cung cấp các nhà tổ chức ngay tại chỗ đến hỗ trợ vật chất. USSF đã quyên góp được hàng trăm ngàn đô la và phân phối ủng hộ các quán cà phê địa phương và các tờ báo trái lề. Các tổ chức như GI Civil Liberties Defense Committee (Ủy ban Bảo vệ các Quyền Tự do Dân sự của Binh lính Mỹ) đã cung cấp các luật sư hàng đầu để bảo vệ cho hàng chục binh sĩ phản chiến. Tình đoàn kết quân-dân này là một sự phản bác lại lời đồn hoang đường về một phong trào phản chiến căm ghét binh lính. Trên thực tế, tới cuối năm 1968, các binh sĩ và những người dân thường đã chung tay để làm cho việc tổ chức các binh sĩ trở thành một mặt trận chủ chốt trong phong trào phản chiến.

Phong trào GI phản chiến tiếp tục phát triển trong suốt năm 1969 và đầu thập niên 1970. Phản kháng của binh lính đã nhất loạt trở thành một phần của phong trào hòa bình, với hàng ngàn binh sĩ dẫn đầu các cuộc tuần hành quần chúng, ký các kiến nghị, và tham gia vào những hành động trực tiếp quy mô nhỏ. Ví dụ như, 1.365 binh lính Mỹ đã ký một yết thị nguyên trang trên báo New York Times vào tháng 11 năm 1969 phản đối cuộc chiến tranh. Hàng trăm người, kể cả những binh sĩ đóng tại Việt Nam, đã thể hiện sự ủng hộ của họ đối với các cuộc biểu tình đòi Ngưng chiến vào năm 1969. Chẳng hạn, một lính Mỹ đã viết từ Long Bình, nói rằng anh "đang tranh thủ được sự ủng hộ của những người lính" và gửi kèm theo lá thư của mình một bản kiến nghị đã có các chữ ký – điều theo lời anh " đơn giản là một bản tuyên bố ủng hộ phong trào quần chúng Vietnam Moratorium đòi ngưng chiến ở Việt Nam."

Binh lính cũng bảo vệ các quyền tự do dân sự của họ chống lại bộ máy chỉ huy quân đội. Bộ luật Quân Pháp Thống nhất đã cho các chỉ huy quyền tùy ý trừng phạt những binh sĩ không phục tùng. Những người lính đã phản kháng lại bằng "các quyền của GI", một sự bảo vệ rộng rãi các quyền hiến định của những người phục vụ trong quân đội, được thể hiện sự phản đối chiến tranh của họ, ngay khi họ đang trong quân ngũ.

Chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến huy động giai cấp lao động, và hầu hết những người lính phản kháng đều là những người lính thường – những người phải chịu đựng những gánh nặng lớn nhất của cuộc chiến. Đối lập với “những thượng cấp chuyên nghiệp”, những người lính đã lập ra các nhóm, thậm chí là các liên đoàn, với động lực là những mối quan tâm và ý thức của hàng ngũ thấp cấp hơn trong quân đội. Cấu trúc giai cấp của quân đội cũng bị phân chia sâu sắc theo chủng tộc. Những chỉ huy cao cấp nhất hầu hết là người da trắng, trong khi những người lính da đen chiến đấu và chết với những con số quá lớn và bị vô số hình phạt. Tình trạng phân biệt chủng tộc này tồn tại trong bối cảnh tư tưởng chính trị cấp tiến của người Mỹ da đen đang nổi lên. Những binh sĩ da đen đã thành lập các tổ chức chống đế quốc, từ chối làm nhiệm vụ chống bạo loạn tại các thành phố của Hoa Kỳ, đeo mặt dây chuyền có biểu tượng châu Phi, giơ cao nắm tay theo kiểu chào của phong trào Black Power (Sức mạnh Đen), và đôi khi đi đầu trong việc tổ chức binh lính thuộc mọi chủng tộc.

Đến đầu năm 1970, hàng chục tờ báo chống chiến tranh được viết và sản xuất bởi những binh sĩ trở về từ Việt Nam, cũng được lưu hành trong hàng chục căn cứ quân sự của Hoa Kỳ. Những người lính tự đặt mua các báo này với những số lượng lớn rồi phân phát chúng trên khắp thế giới. Sản xuất, lưu hành, đọc và viết cho các tờ báo GI là những tâm điểm thống nhất hành động phản kháng của binh lính từ Hoa Kỳ tới châu Âu và Nhật Bản rồi sang cả Việt Nam.

Ngoài ra, các binh sĩ cũng đã viết hàng ngàn lá thư cho các tờ báo lề trái đưa ra công khai thế giới bí mật của cuộc phản kháng của binh lính trong kỷ nguyên Chiến tranh Việt Nam. Chẳng hạn như, gần một chục binh sĩ đã ký một lá thư năm 1970 được gửi từ Việt Nam với tuyên bố: "Chúng tôi đã bị hủy hoại hoàn toàn bởi Quân đội này. Tất cả chúng tôi muốn phân phát báo của bạn. Một số trong chúng tôi là những người bị bắt buộc nhập ngũ, những người khác tình nguyện gia nhập quân đội, nhưng tất cả chúng tôi đều nhất trí rằng cuộc chiến tranh này là vô đạo đức."

Trong khi đó, các quán cà phê và các trung tâm của phong trào phản chiến tiếp tục lan rộng. Đến năm 1971, khoảng hai chục địa điểm như vậy đã xuất hiện trên khắp Hoa Kỳ, Tây Âu và Vành đai Thái Bình Dương. Những cơ sở này tiếp tục là các trung tâm tổ chức và vun đắp tình đoàn kết giữa những binh sĩ và lực lượng dân sự chống lại cuộc chiến tranh và quân đội. Hàng ngàn binh lính đã lui tới các cơ sở này. Các cộng đồng phản chiến hoạt động sôi nổi từ Killeen, Texas, đến Mountain Home, Idaho, đã tăng thêm sức mạnh cho hoạt động phản chiến và đưa phong trào đấu tranh đòi hòa bình tới các căn cứ quân sự và thị trấn. Hơn thế nữa, phong trào phản chiến của binh sĩ Mỹ đã thực sự lan rộng toàn cầu, với nỗ lực tổ chức được thực hiện khắp mọi nơi, từ Tây Đức đến Nhật Bản sang Anh tới Philippines.

Tính năng động của phong trào GI được thể hiện vào ngày 15 tháng 5 năm 1971, khi các binh sĩ phản chiến biến Ngày truyền thống Các Lực lượng Vũ trang của Hoa Kỳ (Armed Forces Day) thành “Ngày Của Những Trò hề Vũ trang” (“Armed Farces Day”). Các cuộc phản đối đầy tính sáng tạo thu hút hàng trăm binh sĩ đã diễn ra tại mười chín căn cứ quân sự khác nhau, và ở  một số nơi đã buộc các chỉ huy phải hủy bỏ những hoạt động kỷ niệm đã được lên kế hoạch của họ . Sự bất đồng chính kiến và bất tuân lan cả vào Lực lượng Không Quân và đặc biệt là Hải Quân. Năm 1971, "Phong trào SOS" (Save Our Sailors - Hãy Cứu Thủy thủ của Chúng ta) lan rộng suốt dọc bờ biển California, với hàng trăm binh sĩ và thường dân được tổ chức tham gia những nỗ lực nhằm ngăn chặn các tàu sân bay ConstellationCoral Sea của Hoa Kỳ di chuyển tới Việt Nam.

Phản kháng của binh sĩ tại Việt Nam

Tới đầu những năm 1970, lực lượng quân s Mỹ tại Việt Nam cũng rối bời bởi sự phản kháng và nổi dậy lan xuống các đơn vị cấp dưới. Nhiều lính chiến đấu cảm thấy rằng cuộc chiến tranh không được lòng dân này "không đáng để hy sinh cho nó", và thấy bản thân họ đang bị sử dụng như những "con tốt" và "con mồi" khi các sĩ quan cấp trên của họ tìm cách thăng tiến trên con đường binh nghiệp. Để giữ cho mình được an lành, binh sĩ đã phát triển điều mà Fred Gardner gọi là "chiến thuật mơ hồ để sinh tồn" nhằm đối phó với những mối hiểm nguy trực tiếp mà họ phải đối mặt ở Việt Nam.

Hình thức trực diện nhất của chiến thuật sinh tồn là từ chối thẳng thừng lệnh chiến đấu, nhưng hành động nổi dậy như vậy rất hiếm xảy ra. Phổ biến hơn là những mưu kế tránh phải chiến đấu mà không trực diện vấp phải nguy cơ bị trừng phạt. Các binh sĩ đã sử dụng chiến thuật "tìm kiếm và lảng tránh", theo đó họ giả vờ tuân lệnh chiến đấu, trong khi bí mật tránh giao tranh quân sự. Binh sĩ cũng phá hoại các thiết bị quân sự: những vụ như các thiết bị trên tàu bị kẹt và các vụ cháy bùng phát một cách khó hiểu trên boong tàu đã ngăn cản các con tàu khởi hành tới Việt Nam.

Hình thức nổi dậy bạo lực nhất là "fragging (hạ sát)", hay là mưu sát cấp trên. Gần 600 vụ đã được báo cáo từ năm 1969 đến năm 1971, mặc dù rất có thể nhiều trường hợp khác đã xảy ra mà không được báo cáo. Một số vụ mưu sát chỉ huy đã xảy ra trên chiến trường nhưng nhiều vụ khác diễn ra ở hậu phương, thường là do tức giận vì bị phạt do dùng ma túy hoặc những căng thẳng liên quan đến chủng tộc. Những vụ hạ sát chỉ huy trên thực tế có thể xảy ra dưới dạng nổ lựu đạn hoặc giả vờ bắn nhầm đồng đội, nhưng điều quan trọng hơn là có sự hiểu biết rộng rãi rằng những vụ việc đó có thể xảy ra. Một sĩ quan cho hay, fragging là “cách kiểm soát sĩ quan của binh sĩ", và nó "vô cùng hiệu quả."

Binh lính ở Việt Nam cũng đã tiến hành một cuộc nổi dậy về văn hoá dựa trên các biểu tượng và ngôn ngữ của phong trào phản kháng văn hóa truyền thống ở Mỹ trong những năm 1960. Họ để tóc dài và khoác lên người những đồ trang trí mang tính phản kháng. Họ khắc những biểu tượng hòa bình và họa tiết của nghệ thuật ảo giác lên những bật lửa Zippo của họ. Họ dùng ma túy để thư giãn và thoát khỏi căng thẳng chiến tranh. Những nét nổi loạn dễ nhận thấy mà những người lính khẳng định rõ ràng là những nét đặc trưng riêng của binh sĩ cấp thấp, và của lính bộ binh -  những người đã thực hiện công việc khổ ải của chiến tranh mà chẳng hề được biết ơn.

Một thước đo mức độ ảnh hưởng của phong trào phản đối chiến tranh của lính Mỹ là cảm giác hoảng hốt len lỏi trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự. Cơ quan tình báo quân sự giám sát chặt chẽ các hoạt động phản chiến, và ngay cả tướng Westmoreland cũng lo lắng về hoạt động của các quán cà phê của lính Mỹ (GI coffeehouses). Các vị chỉ huy trong quân đội công khai than phiền về quy mô của cuộc khủng khoảng, nổi bật nhất là đại tá Robert D. Heinl, một nhà sử học quân đội nổi tiếng. Bài báo của Heinl - “Sự sụp đổ của lực lượng vũ trang” (tháng 6/1971 - tạp chí Armed Forces) đã làm dư luận choáng váng khi bắt đầu bằng câu “đạo đức, kỷ luật và khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ đang ở mức thấp nhất trong lịch sử thế kỷ và có lẽ thấp nhất trong lịch sử nước Mỹ.” 10

Truyền thông nhắc đi nhắc lại tình trạng khủng hoảng này. Theo tờ Washington Post (1971), “chưa bao giờ quân đội bị xé nát từ bên trong do phản kháng như thế này kể từ cuộc Nội Chiến”. Vào năm 1970, Newsweek viết về “những người lính Mỹ kiểu mới”, những người chống lại chiến tranh, đi theo quan điểm đi ngược văn hóa chủ lưu (counter-culture) và ủng hộ quan điểm chính trị phản kháng. “Những người lính Mỹ kiểu mới” này đã tạo nên một cơn khủng hoảng, buộc nhóm các lãnh đạo phải chỉnh đốn lại lực lượng vũ trang.

Trở ngại

Càng phát triển mạnh, phong trào phản chiến càng đối mặt với nhiều trở ngại lớn, và một số yếu tố trong đó đã khiến tinh thần phản kháng của binh lính suy giảm. Lên tiếng đồng nghĩa với nguy hiểm. Sự chèn ép và trừng phạt luôn chực chờ những đối tượng bất đồng chính kiến. Hơn thế nữa, quân đội thường xuyên thuyên chuyển quân lực, và sức ép của việc phục vụ trong quân ngũ cũng khiến cho binh lính cảm thấy cô lập và mệt mỏi. Hàng ngàn binh lính tham gia hoặc ủng hộ phong trào phản chiến. Tuy nhiên, đặc điểm của việc tòng quân “chịu đựng – chờ đợi – giải ngũ” cản trở lính Mỹ hành động cho lập trường của họ.

Đàn áp thẳng thừng cũng ngăn cản phong trào phản chiến trong binh lính. Cảnh sát địa phương và cơ quan tình báo giám sát gắt gao các quán cà phê GI (trụ sở hoạt động) và tiến hành một số biện pháp đàn áp nhằm vào các sở sở này như phạt tiền, bắt bớ và cả biện pháp bạo lực bán quân sự. Tiêu biểu là họ nổ súng vào Shelter Half (Tacoma) và đánh bom xăng vào cơ sở Covered Wagon ở Idaho. Những người phản kháng bị trừng phạt theo Điều khoản số 15, bị mang ra tòa án quân sự hoặc tống giam. Tất cả lính Mỹ nhận thức được rằng bất kỳ mối liên hệ nào với phía bất đồng chính kiến đều sẽ dẫn đến kết cục xấu.

Quan trọng nhất là vào năm 1972 và 1973, chiến sự giảm xuống. Việc cắt giảm quân số nhanh chóng và việc chấm dứt chế độ quân dịch đã ngăn chặn ảnh hưởng của bất ổn xã hội lây lan trong quân đội. Khi không còn nhiều lính Mỹ chịu khổ trong chiến tranh Việt Nam nữa, yếu tố thúc đẩy làn sóng phản chiến cũng biến mất.

Di sản của phong trào phản chiến

Sau gần nửa thế kỷ, phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của lính Mỹ để lại cho chúng ta những gì? Trước hết, các nhóm bất đồng chính kiến đã giúp tạo ra khủng hoảng trong quân đội; từ đó, góp phần làm thất bại kế hoạch quân dịch và kết thúc chiến tranh. Bên cạnh đó, phong trào phản chiến của lính Mỹ gốc Phi đã khơi dậy những cuộc cải cách lớn trong quân đội để thúc đẩy sự hòa nhập chủng tộc trong các cấp lãnh đạo và đặt dấu chấm hết cho nạn phân biệt chủng tộc trong quân đội.

Thứ hai, chiến tranh Việt Nam đã trở thành một tấm gương về phản chiến cho các thế hệ sau này. Kể từ năm 2003, các cựu binh tại Iraq và Afghanistan lấy cảm hứng từ phong trào phản chiến của lính Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Họ kết nối với những cựu binh thời chiến tranh Việt Nam và tham khảo chiến thuật của lính Mỹ, từ trưng cầu ý kiến và tuyên truyền cổ động đến thành lập các quán cà phê (địa bàn hoạt động) và phát hành báo chí phản chiến.

Thứ ba, lịch sử phong trào phản chiến vạch trần câu chuyện hoang đường về một phong trào dân sự vì hòa bình ghét bỏ binh lính Hoa Kỳ. Cần nhớ rằng thái độ của phong trào phản chiến đối với binh lính thời chiến tranh Việt Nam chủ yếu là thấu hiểu và đoàn kết. Một bộ phận binh lính nhìn nhận chính phong trào phản chiến mới là đồng minh tốt nhất của họ, chứ không phải những người ủng hộ chiến tranh. Một người lính đã viết trong thư “Chúng tôi, binh lính đóng quân ở Việt Nam, phản đối chiến tranh. Những cuộc biểu tình phản chiến ở nước Mỹ không làm tổn thương tinh thần chúng tôi. Chúng tôi thật sự vui mừng khi có người quan tâm và nỗ lực giúp chúng tôi được trở về nhà.”

Cuối cùng, lịch sử phong trào binh lính phản chiến ở Việt Nam là một ký ức nhắc nhở chúng ta rằng binh lính không chống lại những người phản chiến, mà bản thân người lính là người phản chiến; rằng hàng ngàn người lính thuộc tầng lớp lao động đã đứng lên vì hòa bình chứ không phải vì chiến tranh hay chủ nghĩa quân phiệt; và chính chiến tranh và chủ nghĩa quân phiệt chứ không phải những người phản chiến đã làm nhiều binh lính Mỹ tại Việt Nam mất tinh thần.

Derek Seidman là nhà sử học và nhà nghiên cứu sống ở Buffalo, New York (Hoa kỳ). Ông lấy bằng tiến sĩ Lịch sử ở Đại học Brown (2010) và đã từng là Trợ lý Giáo sư Lịch sử ở Đại học D'Youville ở Buffalo (2013-2016). Trong thời gian đó, ông viết một bài tham luận và bài viết này dựa trên bài tham luận đó.

 

Bài tiểu luận này là bản rút gọn từ bài báo năm 2016 của Derek Seidman, “Vietnam and the Soldiers Revolt: The Politics of a Forgotten History” (tạm dịch: Việt Nam và cuộc nổi dậy của lính Mỹ: Góc nhìn chính trị của một lịch sử bị lãng quên), Monthly Review (Quyển 68, Số 2, tháng 6/2016).

Fred Gardner, “Hollywood Confidential: Part I,” in Viet Nam Generation Journal Online (“Hồ sơ tối mật Hollywood: Phần I” trong Tạp chí trực tuyến Thế hệ Chiến tranh Việt Nam)
Volume 3, Number 3. Chương 3, tập 3.

Xem thêm thông tin thêm về báo chí GI trái lề trong bài của Derek Seidman, “Paper Soldiers: The Ally and the GI Underground Press” in Protest on the Page Essays on Print and the Culture of Dissent (University of Wisconsin Press, 2015). (Những binh sĩ làm báo: The Ally và Báo chí GI trái lề” trong cuốn Phản kháng trên báo: Các tiểu luận về Ấn phẩm và Văn hóa Phản kháng (NXB Đại học Wisconsin, 2015). 

Long Binh Post, October 28, 1969, Vietnam, Vietnam Moratorium Committee Records, Box 1 Folder 7, WHS. (Tổng kho Long Bình, 28/10/1969, Việt Nam, Hồ sơ Ủy ban Ngưng chiến Việt Nam, Hộp số 1 Bìa hồ sơ số 7, WHS)  

86th Maint. BT to The Ally, June 20, 1970, Box 2 Folder 3, Clark Smith Collection, WHS. (Thư từ Tiểu đoàn Bảo trì số 86 gửi cho tờ báo The Ally, 20/6/1970, Hộp số 2 Bìa hồ sơ số 3, Bộ sưu tập của Clark Smith, WHS)

David Cortright, Soldiers in Revolt: GI Resistance during the Vietnam War (Chicago IL: Haymarket Books, 2005), tr. 82-83. (Binh sĩ nổi dậy: Phản kháng của binh sĩ Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam)

Fred Gardner, “War and GI Morale,” New York Times, 21 November 1970, 31. (“Chiến tranh và Đạo đức người lính Mỹ”, New York Times, 21/11/1970, tr. 31)

“Fragging and Other Symptoms of Withdrawal,” Saturday Review, 8 January 1972. (Hạ sát chỉ huy và những triệu chứng cai nghiện,” Tạp chí Thứ Bảy, 8/1/1972)

 

lịch sử

Tin tức

Phim tư liệu


 

 

 

https://baotintuc.vn/van-hoa/lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-20180319145225591.htm

 

 

http://kinhtevn.com.vn/trien-lam-ve-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-31553.html

 

http://m.daidoanket.vn/van-hoa/trien-lam-ve-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-tintuc398032

 

 

http://vtv.vn/chuyen-dong-24h/trien-lam-lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-20180319203719268.htm

 

 

https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/khai-mac-trien-lam-“lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam”-1491843337

 

 

http://vietnamnews.vn/sunday/424735/us-navy-nurse-jailed-for-protest-revisits-vn.html#PiAggUU7itXsFBFK.97

 

http://vtv.vn/video/chuyen-dong-24h-toi-19-3-2018-287832.htm

 

http://voh.com.vn/thoi-su/trien-lam-lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-265393.html

 

http://vovworld.vn/vi-VN/xa-hoi-doi-song/thong-diep-hoa-binh-qua-trien-lam-lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-628550.vov

 

http://english.vov.vn/society/exhibition-features-antiwarinvietnam-campaigns-of-us-veterans-370764.vov

 

https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/-video-trien-lam-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-1491843366

 

http://www.baotangchungtichchientranh.vn/news/detail/263.html

 

https://www.youtube.com/watch?v=qhYSNfHSHbY&app=desktop

 

https://www.vietnamplus.vn/trien-lam-ve-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam/493068.vnp

 

http://vietnamnews.vn/life-style/424706/us-soldiers-waging-peace-in-exhibition.html#VL0zhzOfRjjhdUlq.97

 

http://en.nhandan.com.vn/society/item/5945302-exhibition-recalls-americans

 

http://www.sggp.org.vn/trien-lam-lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-505675.html

 

http://sggpnews.org.vn/national/us-soldiers-send-peace-message-in-exhibition-73177.html

 

https://e.vnexpress.net/news/news/war-exhibition-delivers-messages-of-peace-in-ho-chi-minh-city-3725345.html

 

https://baomoi.com/lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam/c/25316435.epi

 

http://thoibao.today/paper/trien-lam-lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-nam-2902455

 

http://tapchithongtindoingoai.vn/ly-luan-thuc-tien-kinh-nghiem/trien-lam-lan-song-phan-doi-cuoc-chien-tranh-phi-nghia-cua-my-o-viet-14924

 

https://www.youtube.com/watch?v=1psAiaR56pc&feature=youtu.be

 

https://www.youtube.com/watch?v=WGG3XU7n5ZY&t=0s&index=30&list=PLQ9ujV_whCP3pFjqeV1CnwU-ipELYIWRF

 

https://www.youtube.com/watch?v=IO1lanIIlh0&t=0s&index=19&list=PLQ9ujV_whCP3pFjqeV1CnwU-ipELYIWRF

 

https://www.youtube.com/watch?v=h5RseU-4rXM&index=17&list=PLQ9ujV_whCP3pFjqeV1CnwU-ipELYIWRF

 

https://www.youtube.com/watch?v=8JTd9cS3bqY&list=PLQ9ujV_whCP3pFjqeV1CnwU-ipELYIWRF&index=12

 

http://ct.qdnd.vn/van-hoa-xa-hoi/hanh-trinh-hoa-giai-522227

 

https://tuoitre.vn/van-can-nhin-ve-mot-qua-khu-dau-buon-va-am-anh-1431900.htm

 

http://www.baotangchungtichchientranh.vn/news/detail/265.html